Giải pháp, công nghệ và văn hóa số trong chuyển đổi số Ngành Giáo dục- Đào tạo Đà Nẵng

Nhà giáo Lê Thị Bích Thuận – Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng tặng hoa Phó Giáo sư.Tiến sỹ Huỳnh Công Pháp – Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Hàn, Đại học Đà Nẵng, nhà trường đã hết lòng phối hợp tổ chức sự kiện. Ảnh trong bài: T.N

(DSA) – “Theo xu thế, cả thế giới đang chuyển đổi số trên mọi lĩnh vực. Nếu một ngành, một lĩnh vực nào đó chậm chân, không kịp hay không chịu thay đổi thì có thể đánh mất vị trí của mình. Cũng có ý kiến nói vui rằng, “chậm chân trong chuyển đổi số coi như là chết”.

Đối với ngành giáo dục và đào tạo, ngành chịu trách nhiệm chính về trình độ dân trí, cung ứng nguồn nhân lực cho phát triển xã hội, chuyển đổi số càng có tính cấp thiết, do vậy cần xây dựng kế hoạch và có tầm nhìn sớm, mới kỳ vọng chuyển đổi thành công trong tương lai”, PGS.TS. Huỳnh Công Pháp – Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Hàn (VKU), Đại học Đà Nẵng, nhấn mạnh.

Ngày 10/10, tại VKU, đã diễn ra hội thảo Chuyển đổi số ngành giáo dục đào tạo thành phố Đà Nẵng với chủ đề “Cơ hội, thách thức và một số giải pháp cho các trường phổ thông”. Tại hội thảo, nhiều mô hình, giải pháp, và tham luận về chuyển đổi số trong lĩnh vực đã giúp các thầy, cô giáo tiếp cận thêm về chuyển đổi số. Mô hình, giải pháp mới được chia sẻ trở thành những gợi ý thiết thực để mỗi nhà trường tham khảo, chọn áp dụng trong thời gian đến một cách phù hợp.

Nhà giáo Mai Tấn Linh – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng: Chuyển đổi số trong giáo dục là một quá trình thay đổi phương thức thực hiện giáo dục truyền thống bằng phương pháp giáo dục hiện đại.

“Vấn đề cơ bản, quan trọng trong chuyển đổi số của ngành Giáo dục và Đào tạo chính là (phải) “xuất phát từ sự thay đổi trong tư duy, nhận thức về chuyển đổi số của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị và cán bộ quản lý, giáo viên trong cơ sở giáo dục”.

Chuyển đổi số trong giáo dục là một quá trình thay đổi phương thức thực hiện giáo dục truyền thống bằng phương pháp giáo dục hiện đại, bao gồm cả cơ sở vật chất và các phương thức giáo dục, phương thức dạy học, phương thức quản lý giáo dục; tận dụng tối đa công nghệ hướng tới nền giáo dục chất lượng cao.

Trong thời gian qua, giáo dục thành phố Đà Nẵng đã và đang thực hiện bước đầu trong chuyển đổi số như: tạo dựng cơ sở dữ liệu về giáo dục, triển khai hệ thống thông tin chính quyền điện tử và chữ ký số cho các đơn vị, trường học trên toàn thành phố để tổ chức, điều hành các hoạt động; cung cấp các dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3, mức độ 4; trang thông tin điện tử của ngành, các phần mềm hỗ trợ dạy học cơ bản đáp ứng được việc tổ chức dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; đặc biệt và việc tổ chức dạy học, đánh giá kết quả dạy học bằng nhiều hình thức trong điều kiện dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp…”, Nhà giáo Mai Tấn Linh – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng cho biết.

Được biết, nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ UBND thành phố Đà Nẵng giao cho Sở (tại Quyết định số 2870/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2021, ban hành Đề án chuyển đổi số trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030), Sở Giáo dục- Đào tạo thành phố đã ban hành kế hoạch 253/KH-SGDĐT (Kế hoạch Chuyển đổi số của ngành Giáo dục – Đào tạo thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030).

Các Thầy cô từ nhiều trường trên địa bàn thành phố, về tham dự hội thảo.

Đồng hành và hiến kế chuyển đổi số cho Ngành Giáo dục – Đào tạo thành phố
Thạc sỹ Hà Duy Bình – Trưởng ban giáo dục và đào tạo (Trung tâm Hỗ trợ và tư vấn chuyển đổi số Thành phố Hồ Chí Minh – DXCenter), qua tham luận “Xây dựng lộ trình chuyển đổi số cho hệ thống giáo dục thông minh và học tập suốt đời của thành phố Đà Nẵng”, đề xuất:

Lộ trình (có thể) được chia ra hai giai đoạn. Giai đoạn từ 2021-2025, tập trung xây dựng hệ thống trung tâm quản lý điều hành Giáo dục thông minh và Học tập suốt đời thông minh. Bao gồm cơ sở dữ liệu toàn ngành được thống nhất đồng bộ, liên thông, chia sẻ và quản lý bằng mã định danh (giáo viên, học viên, quản lí, cơ sở dạy-học…), kết nối trên toàn hệ thống, mọi cơ sở giáo dục đào tạo ở tất cả các huyện, thị xã; tích hợp mạng lưới thông tin địa lí của cơ sở giáo dục đào tạo; hệ thống cung cấp thông tin toàn diện về các dịch vụ giáo dục đào tạo, phục vụ nhu cầu đăng ký tuyển sinh, đào tạo, thành tích học tập, hỗ trợ pháp lý; bao hàm cả dữ liệu bằng cấp chứng chỉ, và các dịch vụ tra cứu thông tin xã hội….

Hệ thống cũng cập nhật và đồng bộ cơ sở dữ liệu hệ thống quản trị nhân sự (nhân sự, điều chuyển cán bộ công chức và viên chức, tài chính kế toán, quản lý tài sản, tuyển sinh, đào tạo, …); số hóa tài liệu sổ sách, tài liệu, chương trình, giáo trình đào tạo; hệ thống học liệu điện tử và truyền thông đa phương tiện; hệ thống phòng LAB thực hành, xưởng chế tạo FABLAB; hệ thống thư viện thông minh (Hybrid Library); hệ thống đào tạo trực tiếp kết hợp trực tuyến (Online merge offline – OMO); hệ thống kiểm tra đánh giá và kiểm định chất lượng; hạ tầng thông tin, an toàn dữ liệu và bảo vệ thông tin người dùng…).

Giai đoạn 2025-2030, tiếp tục kiện toàn hệ thống Giáo dục thông minh và Học tập suốt đời trên địa bàn Đà Nẵng theo hướng ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ và chuyên môn hóa bằng công nghệ khoa học dữ liệu và phân tích dữ liệu lớn (Big Data), Trí tuệ nhân tạo (AI), Tự động hóa (robotics), In 3D (3D printing), Kết nối vạn vật (Internet of Things), Định danh chuỗi (Blockchain), Thực tế ảo và thực tế tăng cường (Virtual reality và Augmented reality)… qua đó thông minh hóa cơ sở GDĐT, trường học thông minh, lớp học thông minh, phòng LAB thông minh…; tăng cường xây dựng các xưởng chế tạo thực hành (FABLAB) phục vụ thực hành và nghiên cứu khoa học đối với GDĐT.

Chúng tôi xác định rõ mục tiêu chuyển đổi số Giáo dục thông minh và Học tập suốt đời trên địa bàn Đà Nẵng là đảm bảo công bằng trong giáo dục – đào tạo, sẽ không có ai bị bỏ rơi lại phía sau; người học đạt được kỹ năng 4C thế kỷ 21 (Giao tiếp – Communication, Cộng tác – Collaboration, Tư duy phản biện và giải quyết vấn đề – Critical thinking and problem solving, sáng tạo – Creactivity)”, Thạc sỹ Hà Duy Bình, tâm huyết, chia sẻ.

Mô hình, giải pháp được chia sẻ, đề xuất:
Thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số ngành Giáo dục: Đồng bộ và cộng hưởng dữ liệu (Người trình bày: ông Lê Nguyễn Trường Giang – Viện trưởng Viện chuyển đổi số).

Giải pháp quy hoạch cơ sở dữ liệu tập trung và đồng bộ các phần mềm khác nhau trong quản lý Hệ thống các cơ sở giáo dục (ông Đào Duy Anh – Giám đốc sản phẩm và ông Nguyễn Quốc Việt: Giám đốc công nghệ, CTCP Tada).

Giải pháp tổ chức thi cử, kiểm tra, đánh giá và thống kê toàn diện dành cho khối phổ thông (bà Cao Bảo Ngọc, Trưởng phòng Chăm sóc khách hàng, Công ty LabHok Việt Nam).

Hệ sinh thái chuyển đổi số ngành giáo dục vnEdu (ông Chu Lê Long – Chuyên gia Trung tâm Giải pháp Giáo dục số – Tập đoàn VNPT).

Chuyển đổi số giáo dục với Microsoft (ông Phạm Hoài Nam – Chuyên gia giải pháp công nghệ – Microsoft).

Chuyển đổi số trong đào tạo nguồn nhân lực: VKU sẽ là Đại học số đầu tiên
Theo Tiến sỹ Trần Thế Sơn – Phó Hiệu trưởng VKU: Dự báo khoảng 5-10 năm tới, 50% máy móc sẽ thay thế con người vận hành sản xuất, kinh doanh và các quy trình quản trị. Điều này sẽ khiến khoảng 1 tỷ người lao động trên toàn cầu rơi vào tình cảnh thiếu các kỹ năng đáp ứng, do chưa thể bắt kịp xu thể của công nghệ.

Mặt khác, lại nảy sinh tình trạng thiếu hụt nhân lực ở nhiều nơi trên thế giới. Ngay tại Việt Nam, ngành vi mạch bán dẫn được dự báo sẽ không đủ nguồn nhân lực để cung ứng. Nhiều công ty lớn như Intel, Samsung, LG, v.v… khi quyết định chuyển dịch đầu tư vào Việt Nam, với kế hoạch sẽ mở rộng quy mô sản xuất nghiên cứu tại Việt Nam ngày càng lớn, cũng sẽ thiếu lao động có tay nghề.

Theo dự báo mới nhất, trong khi nhu cầu cần khoảng 200.000 đến 300.000 nhân lực ICT, thì tổng chỉ tiêu đào tạo (của các trường có đào tạo các chuyên ngành ICT, trên cả nước), cũng chỉ đáp ứng 50.000 lao động. Một số ngành có nhu cầu cao như kỹ sư IT trong ngành Mạng và An toàn thông tin ( cần 12.400 kỹ sư mỗi năm); thì khả năng sinh viên tốt nghiệp (kỹ sư IT ngành Mạng và An toàn thông tin) hằng năm, cũng chỉ đáp ứng 8.660 nhân lực. Tại Đà Nẵng, nhu cầu tuyển dụng ngành ICT mỗi năm (trong những năm đến), cần đến trên 10.000 lao động, trong đó cần khoảng 5.000 lập trình viên.

Tiến sỹ Trần Thế Sơn – Phó Hiệu trưởng VKU: Dự báo khoảng 5-10 năm tới, 50% máy móc sẽ thay thế con người vận hành sản xuất, kinh doanh và các quy trình quản trị.

Theo Tiến sỹ Trần Thế Sơn, trước bối cảnh đặt ra nhiều yêu cầu khá cấp thiết, thậm chí là bức bách, nếu thực hiện chuyển đổi số thành công và hình thành một đại học số, có mô hình quản trị tiên tiến, hiện đại, mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao (cả về số lượng, lẫn chất lượng) về nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông trong bối cảnh mới. Và VKU đã, đang phấn đấu để trở thành Đại học số đầu tiên ở miền Trung – Tây Nguyên.

Để đạt được mục tiêu là “Đại học số đầu tiên ở miền Trung – Tây Nguyên”, sắp đến, VKU sẽ triển khai thêm các mô hình (ứng dụng, vận hành, quản trị) mới. Đơn cử như số hóa thông tin tra cứu (trong đó, có tra cứu-xác thực văn bằng); nền tảng (Cổng Thông tin thực hành) trực tuyến E-Lab với kho dữ liệu số đáp ứng thực hành tất cả các môn học. E-Lab sử dụng công nghệ Ai, kiểm soát sao chép mã nguồn, tư vấn lập trình. Hệ thống “ 1 cửa” được số hóa dành cho người học, cho công tác khảo thí và công tác sinh viên. Đặc biệt là một Trung tâm điều hành, hệ thống Dashboard quản trị (hỗ trợ cho công tác điều hành, quản lý, ra các quyết định kịp thời và cần thiết) theo thời gian thực …

(Hình ảnh minh họa được trích từ slide của các Diễn giả)

Trước đó, đã có 9 hệ thống ra đời tại VKU, đặt những nền tảng đầu tiên cho yêu cầu chuyển đối số một cách chủ động, tích cực, có thể “đi tắt đón đầu” mọi xu thế (hệ thống E-Learning, quản lý đào tạo, khảo thí và đảm bảo chất lượng; hệ thống xét tuyển riêng, thư viện số, …).

“Chuyển đổi số với nền tảng số hoá, là cách để chúng ta khai thác tối đa tài nguyên, nguồn lực (nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính), mở ra khả năng đa dạng hơn nữa các loại hình và dịch vụ đào tạo (nhất là đào tạo bậc đại học), tạo môi trường nghiên cứu mở, mang lại nhiều lợi ích hơn nữa cho xã hội, cộng đồng, đất nước, tạo sự công bằng, học tập suốt đời cho mọi đối tượng trong xã hội”, Tiến sỹ Trần Thế Sơn khẳng định.

Cũng theo ông Sơn, vấn đề không kém phần quan trọng là không chỉ ứng dụng công nghệ số đơn thuần, mà chuyển đổi số còn là, sự chuyển đổi cả về văn hóa, con người, cách thức vận hành của trường đại học, kiến tạo nên “văn hoá số” trong nhà trường.

VKU với mục tiêu trở thành Đại học số đầu tiên của khu vực miền Trung – Tây Nguyên, bắt buộc, cũng phải tính đến chuyển đổi mô hình quản trị, điều hành , quy trình nghiệp vụ của trường và các đơn vị, có như vậy mới đồng bộ và khai thác tối đa nhiều nguồn lực./.

Trần Ngọc